
Trong suốt chiều dài hơn nghìn năm phong kiến, hiếm có vị vua nào hội tụ đủ cả văn trị lẫn võ công, vừa là nhà cai trị kiệt xuất vừa là nhà thơ lớn, như Hoàng đế Lê Thánh Tông. Ngài là đỉnh cao chói lọi của triều Lê sơ, là biểu tượng cho thời đại hoàng kim của nền văn hiến Đại Việt – thời mà tên gọi Hồng Đức thịnh thế mãi mãi được khắc ghi vào sử xanh.
Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành (黎思誠), sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất – 1442, là con thứ tư của vua Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao. Tuổi thơ của ngài gắn liền với những biến động cung đình dữ dội: thân mẫu phải lánh nạn sinh ngài bên ngoài cung cấm, bản thân ngài lớn lên giữa thời loạn của các vụ tranh đoạt quyền lực.
Năm 1460, sau khi các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt dẹp loạn Lê Nghi Dân, triều đình suy tôn Lê Tư Thành – khi ấy mới 18 tuổi – lên ngôi hoàng đế. Đó là khởi đầu cho 38 năm trị vì rực rỡ bậc nhất lịch sử, trải qua hai niên hiệu: Quang Thuận (1460–1469) và Hồng Đức (1470–1497).
Thành tựu để đời và vĩ đại nhất của Lê Thánh Tông chính là bộ Quốc triều hình luật, quen gọi là Luật Hồng Đức. Với 722 điều chia thành 13 chương, đây là bộ luật thành văn hoàn chỉnh và tiến bộ bậc nhất của chế độ phong kiến phương Đông đương thời.
Điều khiến hậu thế kinh ngạc là tính nhân văn vượt thời đại của bộ luật: nhiều điều khoản bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ – cho con gái được hưởng thừa kế ngang con trai, công nhận quyền có tài sản riêng của vợ, cho phép vợ bỏ chồng trong những trường hợp nhất định. Luật còn bảo vệ người già, trẻ em, người tàn tật, người dân nghèo trước cường hào. Cho đến nay, các học giả luật học quốc tế vẫn coi Luật Hồng Đức là một di sản pháp lý độc đáo của nhân loại.

Lê Thánh Tông tiến hành cuộc cải cách hành chính sâu rộng, chia cả nước thành 13 đạo thừa tuyên, đặt ra cơ chế Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) và Lục khoa giám sát, tạo thế kiềm chế – cân bằng quyền lực để chống lạm quyền. Năm 1490, ngài cho hoàn thành bộ Bản đồ Hồng Đức (Hồng Đức bản đồ) – tấm bản đồ hành chính hoàn chỉnh đầu tiên ghi rõ cương vực toàn cõi Đại Việt, một bằng chứng chủ quyền vô giá của dân tộc.
Dưới thời Hồng Đức, nền giáo dục – khoa cử đạt tới cực thịnh. Các kỳ thi Hội, thi Đình được tổ chức quy củ, người tài được trọng dụng không kể xuất thân. Để tôn vinh hiền tài, từ năm 1484 Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, khắc tên những người đỗ đạt với lời bất hủ: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Những tấm bia đá đặt trên lưng rùa ấy đến nay vẫn còn, đã được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thế giới.

Không chỉ là bậc thầy văn trị, Lê Thánh Tông còn là vị vua có võ công hiển hách. Năm 1471, đích thân ngài thống lĩnh đại quân nam chinh, đánh tan kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành, sáp nhập vùng đất rộng lớn và lập đạo thừa tuyên Quảng Nam, mở rộng cương vực Đại Việt về phương Nam một cách bền vững. Quân đội thời Hồng Đức được tổ chức chặt chẽ theo chế độ ngũ phủ quân, hùng mạnh bậc nhất khu vực.
Điều làm nên nét độc đáo có một không hai ở Lê Thánh Tông là ngài còn là một nhà thơ lớn. Năm 1495, ngài sáng lập Hội Tao Đàn gồm 28 vị – ứng với "nhị thập bát tú" (28 ngôi sao), tự xưng Tao Đàn nguyên súy, quy tụ những danh sĩ tài hoa nhất như Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận. Hội để lại các tập thơ Quỳnh uyển cửu ca, Minh lương cẩm tú, và đặc biệt là Hồng Đức quốc âm thi tập với hàng trăm bài thơ Nôm – một tượng đài của văn học chữ Nôm dân tộc.
Khi đi qua ngôi miếu thờ người thiếu phụ Nam Xương chịu nỗi oan khuất (nàng Vũ Thị Thiết – vợ chàng Trương), tấm lòng nhân hậu của vị hoàng đế đã cất lên những vần thơ Nôm xót thương thấu tận:
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng!
— Lại bài viếng Vũ Thị (Miếu vợ chàng Trương), thơ Nôm Lê Thánh Tông
Và khi đứng trước dòng sông lịch sử – nơi cha ông ba lần nhấn chìm quân xâm lược – khí phách của vị quân vương lại trào dâng thành niềm tự hào non sông gấm vóc:
Lẻo lẻo doành xanh nước tựa dầu,
Trăm ngòi, ngàn lạch chảy về chầu.
Rửa không thay thảy thằng Ngô dại,
Dịu một lâng lâng khách Việt hầu.
Nọ đỉnh Thái Sơn rành rạnh đó,
Nào hôn Ô Mã lạc loài đâu?
Bốn phương phẳng lặng kình bằng thóc,
Thong thả dầu ta bủa lưới câu.
— Sông Bạch Đằng, thơ Nôm Lê Thánh Tông
Hai vần thơ ấy đủ cho ta thấy một tâm hồn vừa nhân ái bao dung với phận người nhỏ bé, vừa hào sảng tự tôn trước vận nước – đó chính là chân dung trọn vẹn của bậc minh quân.
Hơn năm thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh hào quang của thời đại Hồng Đức vẫn còn rạng rỡ. Lê Thánh Tông đã để lại cho dân tộc một di sản trọn vẹn: một bộ luật nhân văn, một nền hành chính kiểu mẫu, một tấm bản đồ chủ quyền, một kho tàng thơ văn chữ Nôm bất hủ và một biên cương được mở mang vững bền.
Chúng con – những thế hệ con cháu hôm nay – xin cúi đầu tri ân vị Hoàng đế anh minh đã đặt nền móng cho một nước Đại Việt văn hiến và tự cường. Tấm gương "hiền tài là nguyên khí quốc gia", tinh thần thượng tôn pháp luật và lòng yêu nước, trọng người tài của ngài mãi mãi là ngọn đuốc soi đường. Tự hào thay non sông đã sinh ra một bậc minh quân như Lê Thánh Tông – niềm kiêu hãnh ngàn đời của dân tộc Việt Nam!